XU MIAMI

Monday, 9 April 2012

Mỹ học Kawabata Yasunary - repost


1. Kawabata Yasunary (1899-1972) là cây đại thụ trong nền văn học hiện đại Nhật Bản. Ông đã làm rạng danh nền văn học xứ sở Phù Tang bằng giải Nobel Văn học năm 1968. Và cũng mơ hồ và bí ẩn như hầu hết các sáng tác của mình, Kawabata đi vào cõi vĩnh hằng vào ngày 16 tháng 4 năm 1972 tại Kamakura . Sự ra đi của ông đã để lại sự tiếc nuối trong lòng bao bạn thế hệ bạn đọc. Nhưng người ta chỉ thực sự chết khi không để lại trong lòng những người đang sống một điều gì cả. Kawabata thì không như thế! Ông đã ra đi nhưng tình yêu khôn nguôi với cái đẹp mang màu sắc dân tộc, kết tinh thành nét độc đáo về tư duy thẩm mỹ và tâm hồn Nhật mãi sống và ở lại cùng tác phẩm của ông. Nếu như Kawabata tự nhận mình được sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản thì đến lượt sáng tác của ông từ Truyện trong lòng bàn tay đến các tiểu thuyết Xứ tuyết, Cố đô, Ngàn cánh hạc, Tiếng rền của núi, Người đẹp say ngủ... lại được hoài thai bằng tình yêu, lòng tự hào với cái đẹp mang màu sắc dân tộc của nhà văn trót sinh ra với định mệnh cô đơn này. Đặt các sáng tác của Kawabata vào truyền thống tôn thờ cái đẹp của văn học nghệ thuật Nhật Bản, nhìn chúng từ các nguyên lý mĩ học, soi chiếu vào đời tư và thời đại ông sống, bài viết muốn khái quát những quan niệm của ông về cái đẹp, gọi là chung là mỹ học Kawabata Yasunary và chỉ ra một số biểu hiện của quan niệm đó trong tác phẩm. (từ mỹ học ở đây được dùng tương ứng với phạm trù cái Đẹp).
2.Theo nhà nghiên cứu Nhật Chiêu, nếu như văn hoá Ấn Độ thiên về tư duy và thần bí, văn hoá Trung Quốc thiên về hành động và thực tiễn thì văn hoá Nhật Bản lại thiên về tình cảm và cái đẹp. Chảy trong mạch nguồn văn hoá ấy, thơ văn Nhật thể hiện ở mức độ cao nhất cái tín ngưỡng tôn thờ cái Đẹp. (1) Giáo sư Mitsuyoshi Numano, trong cuộc du thuyết về văn học sử Nhật Bản vừa qua tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh cũng khẳng định, văn học đất nước ông được hình thành dựa trên tín ngưỡng tôn thờ cái đẹp và đã có một truyền thống yêu cái đẹp trong văn học xứ sở hoa anh đào. Có thể kể đến những hiện tượng tiêu biểu như vẻ đẹp trong thơ của các thiền sư, thơ haiku và thời văn học của cái đẹp (thời Heian). Những bài thơ haiku của Basho, nhất là trong tập Lối lên miền Oku được xem là khúc giao hưởng của một tâm hồn đang hoà nhập với thế giới, là cuộc hành trình về với thiên nhiên vũ trụ tinh khiết. Chủ đề xuyên suốt trong tác phẩm này là cuộc hành trình đi tìm cái Đẹp trong thiên nhiên ở miền Bắc xa xôi và xa hơn là trong thế giới tinh thần con người. Trong thơ ca nhân loại, ít có tên nhà thơ nào được gắn với đặc trưng thơ của họ. Thế nhưng trong thơ ca cổ điển Nhật Bản có đến hai nhà thơ như vậy. Đó là Myoe - nhà thơ của ánh trăng và Saigyo - nhà thơ của hoa anh đào. Trăng và hoa trong văn học luôn là hiện thân cho cái đẹp thiên nhiên vĩnh hằng. Thơ của Myoe luôn tràn ngập ánh trăng. Là thi sĩ của ánh trăng, ông đắm mình trong thứ ánh sáng huyền diệu của chị Hằng. Còn đối với nhà thơ Saigyo, tình yêu của ông đối với hoa đào là vô thuỷ vô chung và ông luôn mơ được chết dưới cội hoa đào.                    
        Một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của thời Heian đã có ảnh hưởng sâu sắc nhất đến khuynh hướng thẩm mỹ của Kawabata là truyện Genji. Tác phẩm này đầy ắp cái đẹp từ thiên nhiên đến tâm hồn con người. Điểm qua một số hiện tượng tiêu biểu của văn học Nhật Bản, ta thấy yêu cái đẹp là truyền thống của văn học xứ sở Phù Tang và những kiệt tác của Y.Kawabata là sự tiếp nối. Để có những tác phẩm là hiện thân của vẻ đẹp Nhật Bản, Kawabata đã tìm về cội nguồn yêu cái đẹp và thấm nhuần những nguyên lí mĩ học của dân tộc.
      3. Theo mỹ học mác-xít: Cái đẹp là một phạm trù thẩm mỹ dùng để chỉ một phẩm chất thẩm mỹ của sự vật khi nó phù hợp với quan niệm của con người về sự hoàn thiện và tính lý tưởng, có khả năng gợi cho con người  thái độ thẩm mỹ tích cực do sự tác động qua lại giữa đối tượng và chủ thể. (2) Cái đẹp có trong tự nhiên, trong xã hội nhưng nghệ thuật là lĩnh vực chuyên môn cao nhất trong việc “sản xuất” cái Đẹp. Cái đẹp trong văn chương nghệ thuật là cái đẹp mới, lý tưởng, hoàn thiện. Văn chương nghệ thuật không chỉ miêu tả cái đẹp mà còn là tình cảm, cảm xúc của chủ thể thẩm mỹ đối với cái đẹp. Cái đẹp trong văn chương nghệ thuật là biểu hiện tập trung của cái đẹp trong tự nhiên và xã hội, đó là sự mở rộng nâng cao vẻ đẹp trong đời sống, gắn với sự sáng tạo của người nghệ sĩ, in dấu tâm tư, tình cảm, phong cách, kết tinh tư tưởng quan niệm thẩm mỹ của họ. Đó thực chất là cái đẹp của nhiều lần cái đẹp. Văn chương có quyền nói đến cái xấu, cái ác nhưng nói như nhà văn Nguyễn Khải, “thanh nam châm” thu hút mọi thế hệ vẫn là chân trời của cái đẹp. Bởi vậy, sứ mệnh của văn chương là ngọn hải đăng dẫn đường về cõi chân, thiện, mỹ và thiên chức của người nghệ sĩ là “người dâng tặng bông hồng vàng” cho đời.
      Bên cạnh những quan niệm thẩm mỹ mang tính phổ quát, mỗi dân tộc thường có những quan niệm riêng gắn với truyền thống văn hóa, tình cảm, tâm lý dân tộc. Nhật Bản là xứ sở hoa anh đào, kịch Nô, sân khấu Kabuki, trà đạo… Chắt lọc tinh hoa văn hoá dân tộc, người Nhật đã làm nên bản sắc thẩm mỹ của mình bằng những tiêu chuẩn riêng gắn với tôn giáo. Từ ảnh hưởng của Shinto giáo, người Nhật khái quát lên ba tiêu chuẩn về cái đẹp cái đẹp: xabi, wabi và xibui. Xabi là cái đẹp gắn với tự nhiên, wabi là vẻ đẹp thường ngày, là sự chừng mực thông minh, cái đẹp của sự giản dị. Theo thời gian, xabi và wabi kết hợp thành xibui. Đó là sự không hoàn thiện đơn sơ kết hợp với sự thận trọng tỉnh táo, cái đẹp tự nhiên cộng với sự giản dị.  Từ ảnh hưởng của Phật giáo, có tiêu chuẩn về cái đẹp mang tên là yugen và các biến thể của nó là yuge, yojo. Yugen là yêu kiều, nét đẹp mê hồn, tuyệt vời của vạn vật. Yuge là u huyền, điều quý giá ẩn dấu trong vạn vật, hiện tượng mà nghệ thuật cận phát hiện. Còn yojo là dư tình, cái ngụ ý không nói rõ, không có trong lời. Tất cả được gói gọn trong khái niệm “Mononoaware”- cái đẹp u buồn, cái đẹp trong quá trình hoàn thiện, hiện tượng mà người nghệ sĩ phải thể hiện được trong tác phẩm.(3) Mặt khác, người Nhật Bản có lối tư duy hướng nội, đậm màu Thiền, luôn tìm kiếm vẻ đẹp trong thế giới tĩnh lặng, suy tưởng, chiêm nghiệm, thế giới của những tố phác tinh thần thuần khiết. Ngoài ra, thiên nhiên đặc biệt của nước Nhật với những thay đổi thất thường cũng có ảnh hưởng tư duy nghệ thuật. Người Nhật hay ngợi ca sự phù du, thi vị hóa cái hay thay đổi, sự ngắn ngủi, không bền, không cân đối, cái bỏ lửng. Từ hội họa, sân khấu, thơ ca, đặc biệt là thơ haiku đều thể hiện rõ điều này. Kawabata đã thấm nhuần những quan niệm mỹ học truyền thống và thể hiện một cách độc đáo trong tiểu thuyết của mình.
      4. Kawabata sinh ra và lớn lên trong thời đại có nhiều biến động: nước Nhật thất bại trong hai cuộc chiến tranh thế giới, trận động đất lịch sử ở Canto, sự chiến đóng của Mỹ sau cuộc chiến…Tất cả điều đó làm thay đổi đời sống người Nhật, các giá trị truyền thống bị mai một. Người Nhật khủng hoảng niềm tin, dao động trước các luồng tư tưởng mới. Mặt khác, cuộc đời riêng của ông có nhiều nỗi buồn, sớm mồ côi cha mẹ và tận mắt chứng kiến cái chết của người thân (chị, ông bà). Tất cả những điều này đã trở thành bi kịch cá nhân, thành vết thương tâm linh in dấu lên tác phẩm của ông. Để gìn giữ vẻ đẹp truyền thống dân tộc và gửi gắm những ẩn ức riêng tư, ông không chỉ lặng lẽ, đơn độc trong hành trình tìm về truyền thống yêu cái đẹp của người Nhật mà còn hướng về chân trời mĩ học hiện đại để tạo dựng cho họ niềm tin về các giá trị trường tồn của dân tộc và biết nhận chân những giá trị thẩm mỹ mới.
 Dõi theo các tác phẩm của các tác giả đoạt giải Nobel văn học, chúng ta thấy rằng, giải thưởng cao quý này thường được trao cho những sáng tác có sự cách tân về nghệ thuật hoặc góp phần gìn giữ  bản sắc riêng cho một dân tộc nào đó. Năm 1968, Viện Hàn lâm văn học Thụy Điển năm đã trang trọng trao giải Nobel văn học cho Kawabata bởi: Ông là người tôn vinh vẻ đẹp hư ảo và hình ảnh u uẩn của hiện hữu trong đời sống thiên nhiên và trong định mệnh con người.(4) Điều đó có ý nghĩa to lớn trong thời đại cái đẹp truyền thống Nhật đang bị hoen ố, mai một và lãng quên. Trong hoàn cảnh đó, Kawabata đã lặng lẽ tạo dựng niềm tin cho dân tộc bằng những tác phẩm phản chiếu một thế giới lung linh vẻ đẹp Nhật: con người, thiên nhiên, nhân cách… Bởi sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản, Y.Kawabata nguyện suốt đời làm lữ khách cứu rỗi cái Đẹp đang bị phai tàn, hoen ố.
      Trong sáng tác của Kawabata ta bắt gặp không gian đẫm màu sắc Nhật, cảnh tuyết trắng dát bạc trên sườn núi ở Kamakura, hình ảnh đám mây hoa anh đào, tiếng chuông mùa xuân vọng từ núi cao, lễ hội Kimono, nghi lễ trà đạo. Đó còn là không gian tâm tưởng của những vũ nữ xứ Izu, của những geisha xứ tuyết, những người chơi cờ Gô…Đồng thời thế giới tâm hồn Nhật Bản - tâm hồn của những con người yêu thiên nhiên, giàu đức tận hiến hy sinh và mẫn cảm với cái đẹp cũng được phản chiếu lấp lánh trong các sáng tác của ông.
          Tuy nhiên, không phải ngay từ đầu, sáng tác của Kawabata đã là thế giới mang vẻ đẹp truyền thống Nhật. Khảo sát các tác phẩm của Kawabata, ta thấy, những sáng tác ban đầu của ông gắn với trường phái “Tân cảm giác”, ảnh hưởng của thuyết vị lai, chủ nghĩa siêu thực. Đó là sự tác động tất yếu của đời sống và khát vọng thử nghiệm những điều mới lạ. Chính ông cũng thừa nhận rằng: Bị lôi cuốn bởi những trào lưu hiện đại Phương tây đôi lúc tôi cũng thử lấy đó làm mẫu nhưng về gỗc rễ tôi vẫn là người phương Đông và không bao giờ từ bỏ con đường ấy. (5) Nhưng tìm về cội nguồn dân tộc để lưu giữ, bảo tồn cái đẹp đó mới là mục đích, ý nghĩa của sáng tác của Kawabata. Điều này tạo nên chiều sâu trong tác phẩm của ông, con người sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản, người phương Đông từ trong tâm hồn. Tôi đã tiếp nhận lễ rửa tội nơi văn chương phương Tây và tôi cũng bắt chước nó nhưng chủ yếu tôi là một người phương Đông và suốt mười lăm năm qua tôi chưa từng đánh mất phong cách ấy của mình. (6)
          Y.Kawabata được sinh ra từ vẻ đẹp Nhật Bản, nguyện suốt đời làm người lữ hành đơn độc trong hành trình tìm kiếm, gìn giữ cái Đẹp. Vì thế, tác phẩm của ông đã kết tinh vẻ đẹp tư duy thẩm mỹ và tâm hồn Nhật Bản. Sáng tác của Y.Kawabata, bởi vậy, là thế giới gắn bó với truyền thống văn chương luôn cắm rễ vào thế giới hiện thực và tâm linh con người.(7)Điều đáng chú ý là từ những nguyên lí thẩm mỹ của dân tộc và từ những ẩn ức của con người “sinh ra với định mệnh cô đơn”, Y.Kawabata đã nâng lên thành những quan niệm thẩm mỹ riêng: Cái đẹp là tự nhiên nguyên sơ, là  nỗi buồn, là “thẩm mĩ của chiếc gương soi”(8) và hài hoà giữa truyền thống, hiện đại.
5.Như đã nói ở trên, một trong những khái niệm thẩm mỹ truyền thống của người Nhật là xabi, nghĩa là cái tự nhiên. Người Nhật thích những gì thuộc về thiên nhiên, đã bị thời gian làm mất đi cái mới mẻ ban đầu. Kawabata là người khá trung thành với nguyên lý thẩm mỹ truyền thống của dân tộc. Trong diễn từ  nhận giải Nobel văn học năm 1968, ông đã mở đầu bằng bài thơ Bản lai diện mục của Thiền sư Dogen (1200- 1253): Hoa thắm mùa xuân/ Cu gù tiết hạ/Trăng thu óng ả/Tuyết đông, giá lạnh tinh khôi. Bốn mùa trong năm luân chuyển là tự nhiên xoay vần. Trong bài thơ đó, ta thấy hoa, trăng, tiếng chim, tuyết là đặc trưng cho bốn mùa. Không chỉ có vậy, trong diễn từ, Kawabata còn  giới thiệu nhiều bài thơ của các tác giả cổ điển Nhật Bản như Myoe, Saigyo. Ông đã dành rất nhiều thời gian để nói đến truyền thống thơ ca viết về thiên nhiên Nhật Bản với một lòng tự hào thầm kín. Cũng trong diễn từ đó, ông đã say mê khi kể về nghệ thuật Ykebana, trà đạo... Từ đó, chúng ta cũng có thể hiểu thứ mỹ học mà Kawabata theo đuổi chính là cái mà văn học nghệ thuật cổ điển Nhật Bản đã thể hiện.
Không phải ngẫu nhiên mà trong hầu hết các tác phẩm của Kawabata, từ Truyện trong lòng bàn tay đến các tiểu thuyết, ông đều dành phần lớn để viết về thiên nhiên, có thể kể đến một số truyện như sau Trăng soi đáy nước, Con châu chấu và con dế đeo chuông, Tia nắng rạng đông, Sấm mùa thu, Mưa phùn, Cây lựu, Cây hoa trà, Cây mận…Ngay cả tên các chương trong các tiểu thuyết nổi tiếng như Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Đẹp và Buồn…dù câu chuyện về cuộc sống con người nhưng lại có tên của thiên nhiên. Trong Cố đô là Hoa mùa xuân, ni viện và hàng rào gỗ, loại thông liễu trên Bắc Sơn, những cành thông xanh, thu muộn, hoa mùa đông. Trong Đẹp và Buồn là Chuông chùa cuối năm, mùa xuân sớm, hội trăng rằm, ngày mưa, vườn đá, bông sen trong lửa, những hư hao mùa hè, cái hồ…
Không chỉ dừng lại ở tên tác phẩm, tên chương mà trong các tác phẩm, Kawabata luôn dành nhiều tình cảm cho những trang viết về thiên nhiên. Đọc các tác phẩm của ông, chúng ta không chỉ bị hấp dẫn bởi ngôn ngữ trần thuật tinh tế mà còn được tắm mình trong khung cảnh thiên nhiên đẹp, tinh khôi. Đó là cảnh tuyết dát bạc trên sườn núi ở Kamakura, những lễ hội hoa anh đào, những bông huệ đen, bông sen nghìn tuổi, hoa hướng dương, những đám rêu… Đặc biệt trong tiểu thuyết Đẹp và buồn, một tác phẩm mang tính tự truyện, nhân vật Oki là một nhà văn, đã nhiều lần thể hiện niềm thích thú của mình với khung cảnh thiên nhiên: Nhìn qua ô cửa, ông thấy những trái dâu đỏ hoe ngoài vườn. Không phải mùa nhưng ông vẫn nhận ra một bụi đỗ quyên. Mấy cây dâu, mấy gốc tre và mấy cây thông tía ngăn tầm mắt, nhưng qua kẻ lá, ông thấy hồ nước tĩnh lặng màu ngọc thạch. (9) Trong tác phẩm này, nhà văn cũng rất nhiều lần nhắc đến vườn đá, chùa rêu đặc biệt là truyện Genji, một tác phẩm thời Heian ca ngợi cảnh sắc bốn mùa. Ngoài ra, trong Vũ nữ xứ Izu và Xứ tuyết, nhân vật của Kawabata luôn đi tìm vẻ đẹp nơi thiên nhiên thuần phác. Vì thế, cái đẹp là tự nhiên nguyên sơ được xem là một trong những tiêu chuẩn thẩm mỹ của Kawabata. Không chỉ quan niệm đẹp là tự nhiên nguyên sơ, Kawabata còn cho rằng đẹp là buồn.
    Đẹp và buồn là tên một sáng tác của Kawabata năm 1965. Lúc đó, đứng trước cảnh tang thương của đất nước sau thế chiến, ông đã từng hứa rằng từ đây chỉ viết ra những tác phẩm bi ca. Trên thực tế, cái đẹp, “thứ ánh sáng cuối cùng đường hầm” lúc đó là nguyên cớ cao đẹp bên trong giục giã, hối thúc Kawabata tìm kiếm và sáng tạo, nhất là khi cái đẹp đã và đang bị tàn phai trong xã hội kim tiền. Trong sáng tác của ông, cái đẹp thường đi liền với nỗi buồn. Nỗi buồn đó được hun đúc bởi quá khứ văn học dân tộc và những ẩn ức riêng trong đời của “một con người ra đời với định mệnh cô đơn”. Trong quan niệm của Kawabata, cái đẹp và nỗi buồn là những “định đề’ tạo nên nét riêng của tác phẩm. Quan niệm này mới nghe qua có cảm giác phi lý. Nhưng nếu chúng ta đã từng xem các vở bi kịch, xem xong tâm hồn ta cảm thấy được thanh lọc - chất catharsic mà Aristotle ngàn năm trước đã nói đến thì tác phẩm của Kawabata cũng có ý nghĩa như thế. Cái đẹp thường đi với nỗi buồn không khiến ta cảm thấy hối tiếc, bi luỵ khi đọc xong tác phẩm của ông mà trái lại nó cứ giăng mắc, bàng bạc trong lòng ta. Vì vậy, các sáng tác của Kawabata  được xem là “bản giao hưởng ngân vang trong lòng một nỗi u buồn”.
  Quan niệm cái đẹp gắn với nỗi buồn dĩ nhiên không phải là sáng tạo của Y.Kawabata mà nó bắt nguồn từ quan niệm thẩm mỹ của người Nhật. Như ta đã nói ở trên, trong quan niệm thẩm mỹ của mình, người dân xứ sở Phù Tang loại trừ trong nó những gì là sặc sỡ, ồn ào, náo nhiệt. Họ thích những gì tự nhiên, giản dị và bình lặng. Cái niềm bi cảm “aware” mới là điều người Nhật thích cảm nhận trong nghệ thuật của họ. Sáng tác của Kawabata được coi là cuộc tao phùng giữa quá khứ hiện tại, giữa cái cũ và cái mới, giữa thực và ảo, giữa cõi mênh mông và cái hữu hạn. Nhật Chiêu quả là tinh tế khi ông viết: Băng qua bao thế kỷ Tanka và Haiku, niềm bi cảm ấy (aware) lại truyền xuống ngòi bút của Y. Kawabata. (10) Mặt khác, ta thấy rằng những dấu vết buồn đau trong đời cá nhân nhà văn và thời đại cũng in dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn ông khiến cái Đẹp và nỗi buồn trở thành nỗi ám ảnh mỗi khi ông cầm bút. Ta hiểu vì sao trong tác phẩm của ông, chủ đề về tình yêu bị khước từ, tình yêu không đạt, niềm cô đơn, cái chết luôn trở đi trở lại như một ám ảnh định mệnh.
  Dĩ nhiên, con người rất cần đến cái đẹp và niềm vui, bởi trong đời, con người - sinh vật thiêng liêng vốn dễ buồn hơn vui, dễ bất hạnh hơn hạnh phúc - rất cần được tiếp thêm sức mạnh, lòng lạc quan. Song văn học trong khi hướng con người đến cái đẹp, niềm vui, đôi lúc cũng phải để họ có những phút trầm mặc, suy tư và rồi yêu hơn cuộc sống này. Trên một ý nghĩa như thế, quan niệm nghệ thuật của Kawabata tỏ ra không hề cực đoan xa lạ, trái lại nó có một ý nghĩa nhất định trong thời đại của ông. Điều đó thể hiện rõ nhất ở những kiệt tác như những bản bi ca về cuộc đời và số phận con người, buồn đấy nhưng lại đẹp và có sức ám ảnh khôn cùng. Thế giới nghệ thuật này rất gần gũi với văn chương của Thạch Lam trong Hai đứa trẻ, Gió lạnh đầu mùa…Nếu như cái đẹp gắn với nỗi buồn có phần phổ quát trong văn học Nhật Bản thì “thẩm mĩ của chiếc gương soi” được xem là quan niệm về cái đẹp khá độc đáo của Kawabata.
        Chiếc gương soi một trong ba báu vật được nói đến rất nhiều trong các huyền thoại về sự ra đời và tín ngưỡng thiên nhiên của nước Nhật. Người dân xứ sở hoa anh đào coi chiếc gương là biểu tượng tâm hồn của họ. Trong quan niệm về vũ trụ của người phương Đông, con người được coi là tiểu vũ trụ, là một trong ba bộ phận cấu thành đại vũ trụ mênh mông và bí ẩn. Thuyết thiên nhân nhất thể cho rằng, con người và thiên nhiên vốn có chung nguồn cội. Bởi thế Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ, con người và thiên nhiên thường phản ánh, soi chiếu lẫn nhau. Nhật Bản một trong những nền văn hoá tiêu biểu của phương Đông không thể không chịu ảnh hưởng của tư tưởng này. Và chiếc gương soi là cách “mã hoá” thứ vũ trụ quan độc đáo của người Nhật.
         Chiếc gương soi là hình ảnh trở đi trở lại nhiều lần trong sáng của Kawabata dưới nhiều dạng khác nhau. Nó trở thành một phương tiện biểu đạt độc đáo gắn với quan niệm về cái đẹp của Kawabata. Và nói như Nhật Chiêu: Thẩm mỹ quan của Kawabata từ ánh nhìn đầu tiên đến cuối cùng vẫn là soi chiếu thế giới vào một tấm gương kỳ diệu và sự vật được phản chiếu sẽ đẹp hơn bản thân sự vật.(11) Với một ý nghĩa như vậy, Thuỷ nguyệt không chỉ là một truyện ngắn tình cảm tâm lý mà còn là một tuyên ngôn nghệ thuật, một tác phẩm mang tính luận đề.
     Thuỷ nguyệt (Seigetsu) được dịch là Trăng soi đáy nước. Nhưng trong tác phẩm này trăng và nước lại không phải là hình tượng trung tâm mà chiếc gương soi bình thường - vật dụng của Kyoko - nhân vật nữ trong truyện mới là điểm nhìn nghệ thuật của tác phẩm. Trước hết, truyện kể về một chiếc gương có thực, vật mà Kyoko dùng từ ngày về nhà chồng. Nàng thường dùng nó mỗi khi chải tóc. Khi chồng ngã bệnh phải nằm một chỗ, nàng nảy ra ý định dùng chiếc gương để chồng nằm trên giường vẫn có thể ngắm nàng đang làm vườn và nhìn thế giới xung quanh. Từ đó chiếc gương soi có sinh mệnh quan trọng trong mối quan hệ giữa nàng và chồng với thế giới xung quanh. Chiếc gương soi nhỏ bé ấy không chỉ phản chiếu cái thế giới bên ngoài bao la nơi vợ chồng Kyoko đang sống. Thế giới họ cần đến như “chất xúc tác” nuôi dưỡng hạnh phúc của họ mà còn phản chiếu thế giới riêng của vợ chồng nàng, phản chiếu vẻ đẹp tâm hồn Kyoko, một người phụ nữ Nhật thuỳ mị, thương yêu chồng và có đời sống tinh thần phong phú.
  Qua chiếc gương soi, Y.Kawabata còn thông báo cho chúng ta cách nhận thức về cái đẹp theo quan niệm của ông. Nhìn nhận cái đẹp không chỉ bằng đôi mắt trần mà phải nhìn cái tâm của mình, bằng cả tâm hồn và cảm xúc của mình để biết được đẹp hay xấu, hư hay thực. Mỗi người có cái tâm riêng sẽ nhìn thấy bầu trời riêng với màu sắc riêng. (12) Quan niệm thẩm mỹ là chiếc gương soi đã quy định cách nhìn thế giới và cách thể hiện nó trong sáng tác của Y.Kawabata. Trong tác phẩm của mình, hình ảnh chiếc gương soi được cụ thể hoá bằng các hình ảnh: đôi mắt, tâm hồn, ánh lửa, vũng nước, cửa kính của con tàu hay chính cái tâm của con người - thứ gương soi kỳ diệu, kiểu tứ thời tâm kính tựa như như mà Nguyễn Du đã từng nói vậy.
         Thẩm mỹ của chiếc gương soi không chỉ là quan niệm về cái đẹp mà còn về cách nhìn cái đẹp. Thế giới trong chiếc gương soi hiện lên lung linh muôn màu sắc tuỳ vào cách nhìn của người thưởng thức. Như thế quan niệm này đã tạo nên sự khác biệt cơ bản trong mỹ học Kawabata nói riêng, mỹ học phương Đông nói chung với mỹ học phương Tây vốn coi trọng cái đẹp khách quan. Bằng cách thể hiện sự vật trong sự phản chiếu, hồi quang ở sự vật khác, nghệ thuật tỏ ra tôn trọng người thưởng thức. Như thế, có thể thấy, đây là nét hiện đại trong quan niệm mỹ học của Kawabata. Rất có thể trong thời kì sáng tác các tác phẩm này, Kawabata chịu ảnh hưởng rõ nét của triết học hiện tượng luận của Heidergger. Với quan niệm tôn trọng bản thể, dòng triết học này rất coi trọng cảm nhận của chủ thể. Thế giới khách thể chỉ tồn tại qua cái nhìn, cách cảm của chủ thể. Mặt khác, quan niệm thẩm mỹ này còn hàm chứa trong nó chất Thiền. Trong câu chuyện cảm động về tình vợ chồng của Kyoko, có một lần nàng đã nói, thế giới trong gương sở dĩ nó đẹp hơn thực là bởi được nhìn bằng: “đôi mắt của người yêu nhau thắm thiết”. Điều đó hàm chứa một triết lý sâu sắc về mối quan hệ giữa con người và vũ trụ. Con người cũng là một thế giới, cũng giống như chiếc gương soi, một vũng nước nhỏ nhoi, nó có thể mang hình ảnh của vũ trụ. Con người muốn tồn tại, hạnh phúc phải hoà nhập với thiên nhiên, với thế giới bao la.(13) Hoà nhập với thiên nhiên, đó là biểu hiện của Thiền. Mỹ học Thiền được coi là trọng sự hoà hợp nội tâm và ngoại giới. Vì thế, tiểu thuyết của Y.Kawabata là biểu hiện sống động của mỹ học Thiền. Thiền thường dựa vào sự suy nghĩ bên trong bộc lộ sức mạnh ý chí của mình đến độ thành vô ngã. Mỹ học Thiền sử dụng ít lời nhất, ít phương tiện biểu cảm nhất trong sáng tác nghệ thuật. (14)
          Thẩm mỹ của chiếc gương soi mà phần quan trọng là mỹ học Thiền không chỉ quy định cách nhìn thế giới trong sáng tạo của Kawabata mà còn quy định cả cách thể hiện chúng. Đó là một hình thức thể hiện cái đẹp. Nghĩa là không chỉ miêu tả cái đẹp mà còn diễn đạt rung cảm về cái đẹp để rồi thể hiện nó trong một hình thức đầy mỹ cảm. Bản chất của Mỹ học Thiền là cái đẹp phụ thuộc vào trạng thái tinh thần của chủ thể thẩm mỹ.
           Như đã nói ở trên, Kawabata sinh ra trong thời đại mở cửa. Nhật Bản trong cuộc tiếp xúc với phương Tây đã du nhập nhiều hệ tư tưởng mới lạ. Kawabata với những khát vọng thử nghiệm cũng đã từng khám phá và thể nghiệm nhiều thứ chủ nghĩa. Bằng chứng là, ông là một trong những nhà văn sáng lập ra trào lưu Tân cảm giác. Tuy trung thành với truyền thống yêu cái đẹp của dân tộc nhưng trong các sáng tác của ông có thể thấy được dung hoà hai phong cách Đông - Tây ở hệ thống nhân vật, chi tiết liên truyện. Đặc biệt các nhân vật trong tác phẩm của ông đều có thiên hướng đi tìm kiếm vẻ đẹp. Trường hợp chàng sinh viên trong Vũ nữ xứ Izu xuất hiện lại qua bóng dáng của nhân vật Shimamura trong Xứ tuyết rất thường gặp trong các sáng tác của nhà văn pháp Balzac - rõ nhất là trong bộ tiểu thuyết Tấn trò đời. Hai nhân vật này phần nào thể hiện lý tưởng thẩm mỹ của Kawabata - người lữ khách muôn đời đi tìm cái đẹp. Tuy trong những bài tiểu luận, Kawabata không bao giờ nhận mình là một nhà văn duy mỹ nhưng ông lại bày tỏ lòng ái mộ của mình đối với nhà văn duy mỹ nổi tiếng Akutagawa. Điều đó phần nào nói lên quan điểm mỹ học của ông. Những tác phẩm thể hiện quan niệm thẩm mỹ hiện đại nhất của Y.Kawabata là tiểu thuyết Người đẹp say ngủ và Tiếng rền của núi. Trong những tác phẩm này ông đã sáng tạo ra thủ pháp không gian giấc mơ huyền ảo. Trong tác phẩm thứ nhất, nhân vật Eguchi đã nằm mơ hai lần, lần đầu ông thấy bị một người đàn bà bốn chân quặp chặt, lần thứ hai ông thấy ngôi nhà mình bị chìm trong một biển đầy giống hoa thược dược, khi ông ngắm bông to nhất thì một giọt máu từ cánh hoa nhỏ xuống. Ở tác phẩm thứ hai, nhân vật Singo đã chín lần mơ, tác giả đã dành hẳn chương năm để nói giấc mơ về đảo vắng của nhân vật. Trong các giấc mơ của Singo có hình ảnh người đàn bà không đầu, đám mây muỗi khổng lồ… Sáng tạo ra một thế giới huyền ảo là biệt tài của nhà văn G. Marqez. Trong Trăm năm cô đơn, hình ảnh chiếc đuôi lợn ở người đã từng tạo nên tác động đặc biệt với độc giả. Tuy vậy, thế giới huyền ảo trong sáng tạo của nhà văn Mỹ la-tinh này chỉ diễn ra trong giấc mơ còn trong sáng tác của  Kawabata có thể được lý giải bằng những ẩn ức của nhân vật. Tất nhiên, cần phải khẳng định rằng tư duy mỹ học phương Tây chỉ ảnh hưởng đến một phần chứ không phải toàn bộ sáng tác của Y.Kawabata. Điều đó chứng tỏ rằng  tuy rất yêu mến truyền thống mỹ học dân tộc nhưng ông không  phải là người bảo thủ với tất cả. Với một tâm hồn phương Đông thuần khiết, ông vẫn mở rộng lòng mình đón nhận những tư tưởng của thời đại một cách có chọn lọc. Giống như R.Tagore, ông đã góp phần xây dựng chiếc cầu nối giữa hai bờ văn hoá Đông Tây, khiến cho nền văn hoá phương Đông có cuộc gặp gỡ với nền văn hoá phương Tây ở Ấn Độ, Nhật Bản nói riêng và châu Á nói chung.
Như vậy từ mỹ học truyền thống Nhật Bản, Kawabata xác lập những quan niệm về cái đẹp như: cái đẹp là tự nhiên nguyên sơ, cái đẹp là nỗi buồn, cái đẹp là thẩm mỹ của chiếc gương soi, cái đẹp mang màu Thiền. Và từ thời đại ông sống, bằng thế giới quan tiến bộ, Kawabata đã nhìn cái đẹp trong sự hài hoà dân tộc - hiện đại, Đông - Tây. Điều đó chứng tỏ rằng, trong quá trình sáng tạo, Y.Kawabata đã vươn lên đón nhận tinh thần của thời đại, vận dụng mỹ học hiện đại vào sáng tác của mình. Đó chính là bản lĩnh sáng tạo nghệ thuật độc đáo ở người nghệ sĩ này.         
    6. Từ quan niệm đến thực hiện sáng tác, con đường từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng trở về với thực tiễn, hành trình “con gà quả trứng”, hành trình của “con tằm ăn dâu nhả tơ” ấy không hề đơn giản. Bởi có khi hình tượng lớn hơn tư tưởng, nhưng cũng có khi hình tượng chỉ là sự minh hoạ nghèo nàn cho những tư tưởng vốn mang trong nó cái màu xám xịt khó ưa. Song với tài năng nghệ thuật của mình, từ quan niệm đến thực hiện sáng tác Kawabata đã biến những tư tưởng màu xám ấy thành cây đại thụ mãi mãi xanh tươi trong lịch sử văn học Nhật Bản. Có thể nói: Văn học Nhật Bản sau thời Minh Trị cho đến lúc Kawabata qua đời như một con sông lớn, Kawabata đã tắm mình trong đó. Con sông lớn có nhiều dòng chảy nhưng Kawabata biết tự tìm cho mình một dòng chảy trong lành để tắm cho mình - tâm hồn “một lữ khách u buồn” đi tìm cái Đẹp đã mất. (15) Và quả thực, “người lữ khách u buồn” đó đã xác lập cho mình vị trí trang trọng trong nền văn hoá, văn học Nhật Bản, cũng như R.Tagore được mệnh danh là “ngôi sao sáng của Ấn Độ phục hưng” vậy.
 Theo Ngô Quý Giang, Kawabata thuộc loại nghệ sĩ lớn nhất của thế kỷ này. Ông là bậc thầy trong nghệ thuật biểu cảm lớn lao, mang đậm bản sắc dân tộc, người đã làm nên cái kỳ tích là mở cho nhân loại cánh cửa cửa tư duy và tâm hồn Nhật bản vốn đã được coi là bí hiểm và kín đáo. Trong cuộc đời sáng tạo của mình, ông đã tạo nên những tác phẩm bất  hủ có vai trò thúc đẩy sự phát triển của văn học Nhật Bản. Vì thế, ông được tôn xưng là bậc thầy trong sáng tạo nghệ thuật. Và nói như nhà triết học, mỹ học Nietzshe thì sáng tác của Kawabata là một cái cây đại thụ, khi càng vươn lên cao, cành lá càng đâm trổ vào bầu trời thì gốc rễ của nó càng đâm sâu vào lòng đất - mạch ngầm sâu của văn hoá dân tộc. Sáng tác của ông không chỉ lưu giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà còn vươn lên đón lấy tinh thần của thời đại để văn hoá Đông - Tây có cuộc hội ngộ.
  
Chú thích:
(1) Nhật Chiêu (2002), Văn học Nhật Bản từ khởi thuỷ đến 1868, Nxb Giáo dục, 2002, tr 9.
(2) Lê Văn Dương, Lê Đình Lục, Lê Hồng Vân, Mỹ học đại cương, Nxb Giáo dục, 1999, tr 32.
(3)Dẫn theo V.V. Ôtrinnicốp, Những quan niệm thẩm mỹ độc đáo của người  Nhật, Phòng Vũ (dịch),  Tạp chí Văn học, số 5, 1996.
(4) Lê Huy Hòa, Nguyễn Văn Bình (biên soạn), Những bậc thầy văn       
           chương thế giới: Tư tưởng và quan niệm, Nxb Văn học, 1995, tr 29.
(5),(12), (13)(14), (15) Lưu Đức Trung, Bước vào vườn hoa Văn học châu Á, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2003, tr 291, 296, 303, 306.
(6), (7), (8) (11) Nhật Chiêu (2000), Kawabata Yasunari và thẩm mỹ của chiếc gươn soi,  Tạp chí Nghiên cứu Nhật Bản, số 4, 2000, tr 31.
(9) Y. Kawabata, Tuyển tập tác phẩm, Nxb Lao động và Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, 2005, tr 817.


No comments:

Post a Comment